Thảo dược hỗ trợ vô sinh nữ hội chứng buồng trứng đa nang

ID#589
5.00 1
Thảo dược hỗ trợ vô sinh nữ hội chứng buồng trứng đa nang ID#589
Sau khi cho vào giỏ hàng, 1.Chuyển sang thanh toán - 2. Điền số điện thoại, email, xong gửi đơn hàng là thành công
  • Đặt hàng nhanh nhắn tin mã sản phẩm (SKU code) tới số điện thoại 0936700000
  • 100% đảm bảo chính hãng
  • Cung cấp bởi thạc sĩ Nguyễn Đăng Hải 9 năm kinh nghiệm
  • Cam kết đổi trả nếu không đúng hàng
  • Dịch vụ sau bán hàng hoàn hảo, giao hàng tận nhà, tư vấn sử dụng trọn đời sản phẩm

Categories: Trà thảo mộc Chăm sóc sức khỏe

Share:

Chi phí cho 1 tháng sử dụng công thức thảo dược là 1.800.000 - 3.600.000 đồng/tháng, sử dung liên tục 3-6 tháng

Bản chất của bệnh là một hội chứng rối loạn nội tiết, kèm theo bất thường trong chuyển hóa đường và rối loạn chức năng sinh sản, với tỷ lệ mắc khoảng 6% ở phụ nữ. Kim Phụng Đào Nguyên hoàn là một công thức thảo dược được học hỏi và tiếp thu từ các nghiên cứu y học hiện đại thực chứng.

Hội chứng buồng trứng đa nang PCOS là gì

Hội chứng buồng trứng đa nang (Polycystic Ovarian Syndrome – PCOS 多囊卵巢综合征 duō náng luǎncháo zōnghé zhēng ) là một bệnh nội tiết thường gặp trong phụ khoa, là nguyên nhân gây vô sinh ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Hiện nay, điều trị vô sinh do PCOS đã trở thành một vấn đề nóng trong nghiên cứu y học

Đặc điểm lâm sàng của vô sinh do PCOS chủ yếu biểu hiện bằng hiện tượng rụng trứng không đều hoặc không rụng trứng kéo dài, kèm theo tăng androgen và tình trạng kháng insulin. Người bệnh có thể xuất hiện vô sinh do không rụng trứng, kinh thưa, thậm chí vô kinh, tăng cân, rậm lông và các biểu hiện lâm sàng khác. Phần lớn bệnh nhân đến khám vì vô sinh hoặc rối loạn kinh nguyệt. Tỷ lệ vô sinh do bệnh này chiếm khoảng 4%–10%. Hiện nay, căn nguyên học của vô sinh do PCOS vẫn chưa được kết luận thống nhất; tuy nhiên, các nghiên cứu đã ghi nhận một số phát hiện liên quan đến yếu tố di truyền, yếu tố môi trường và những thay đổi sinh học phân tử cục bộ tại buồng trứng.

Trong điều trị vô sinh do PCOS, y học hiện đại chủ yếu sử dụng điều trị bằng thuốc (bao gồm các nhóm thuốc như: thuốc kích thích rụng trứng, thuốc làm giảm nồng độ androgen, thuốc cải thiện tình trạng kháng insulin, v.v.), can thiệp phẫu thuật, thậm chí áp dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Tuy nhiên, các phương pháp này còn tồn tại nhiều hạn chế như tác dụng phụ lớn, tỷ lệ phản ứng bất lợi cao, chi phí điều trị đắt đỏ, và bệnh dễ tái phát sau khi ngừng thuốc.

Y học cổ truyền (YHCT) căn cứ theo lý luận YHCT, điều hòa toàn thân và điều trị theo phép biện chứng luận trị, nhằm điều kinh, trợ thai và cải thiện chức năng nội tiết.

Công thức thảo dược cho phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang

Bài 1 : ích mẫu, nhân sâm, lộc nhung, a giao, nữ trinh tử, Hà thủ ô, câu kỳ tử và 4 vị thảo dược khác

Công thức 2 : Câu kỳ tử 15 gam, thỏ ty tử 15 gam, xa tiền tử 15 gam, ngũ vị tử 15 gam, phúc bồn tử 15 gam và 4 vị thảo dược khác

Công thức 3 : Ba kích, mạch môn, thục địa, hoàng tinh, lộ lộ thông, và 4 vị thảo dược khác

Công thức 4 : Kim phụng Đào Nguyên hoàn công thức trà thảo dược dưỡng sinh do thạc sĩ Nguyễn Đăng Hải nghiên cứu, phát triển từ lý luận y học cổ truyền và các kết quả nghiên cứu lâm sàng của các bệnh viện Trung Quốc, Đài Loan, được bào chế bằng công nghệ Nano liposome giúp tăng sinh khả dụng của công thức thảo dược lên cao nhất. 

Công thức 4 có chi phí 1,5- 3,6 triệu / 1 tháng sử dụng. Sử dụng liên tục 3-6 tháng.

Kim Phụng Đào Nguyên hoàn thừa kế kết quả nghiên cứu của 40 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT), bao gồm tổng cộng 4.247 phụ nữ vô sinh, tổng quan hệ thống và Phân tích gộp cho thấy liệu pháp thảo dược  có khả năng đạt được thai kỳ cao hơn 1,74 lần so với điều trị bằng y học hiện đại (WM) đơn thuần (tỷ số nguy cơ RR = 1,74; KTC 95%: 1,56–1,94; p < 0,0001; tỷ số chênh OR = 3,14; KTC 95%: 2,72–3,62; p < 0,0001) ở phụ nữ vô sinh.

Các thử nghiệm bao gồm những phụ nữ bị vô sinh do hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS), lạc nội mạc tử cung, không rụng trứng, tắc vòi trứng, hoặc vô sinh không rõ nguyên nhân. Tỷ lệ mang thai trung bình ở nhóm điều trị bằng thảo dược đạt trên 60%, trong khi nhóm điều trị bằng y học hiện đại chỉ đạt 33%.

Kết quả lâm sàng

Nhóm sử dụng thảo dược :  có 91 chu kỳ điều trị trong tổng số 43 bệnh nhân; 82 chu kỳ rụng trứng (tức rụng trứng xảy ra 82/91 chu kỳ = 90.10%).


Giới thiệu

Các vấn đề về khả năng sinh sản gặp phải ở khoảng 15% các cặp vợ chồng tại các quốc gia phương Tây.¹ Suy giảm khả năng sinh sản (fecundity), tức là khả năng mang thai hoặc duy trì thai kỳ đến khi sinh, ảnh hưởng đến khoảng 6,7 triệu phụ nữ (10,9%) tại Hoa Kỳ.

Khoảng 80% các trường hợp vô sinh có thể liên quan đến các bệnh lý như lạc nội mạc tử cung hoặc hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS), trong khi 20% được xếp vào nhóm “vô sinh không rõ nguyên nhân” theo mô hình y học hiện đại. Tuy nhiên, việc chẩn đoán một bệnh lý hoặc tình trạng cụ thể và điều trị tiếp theo bằng phẫu thuật, thuốc, thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) hoặc các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản khác (ART) không phải lúc nào cũng dẫn đến một thai kỳ khả thi và sinh con sống. Ví dụ, năm 2011, tại Hoa Kỳ ghi nhận hơn 170.000 chu kỳ ART, trong đó chỉ 29% dẫn đến sinh con sống.

Hơn nữa, điều trị bằng ART gây tốn kém lớn cho cả chính phủ và cá nhân. Năm 2011, chi phí cho một chu kỳ IVF dao động từ 10.000–15.000 USD; chi phí tự chi trả trung bình của các cặp vợ chồng là khoảng 5.300 USD và có thể lên tới 19.000 USD cho chu kỳ IVF đầu tiên, và trung bình 7.000 USD cho các chu kỳ tiếp theo

Vô sinh do nguyên nhân phụ nữ gồm những nguyên nhân gì ?

Vô sinh là một nhóm các rối loạn sinh sản do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Trên thực tế có khoảng 25% các cặp vợ chồng đang tích cực mong muốn mang thai gặp phải tình trạng vô sinh. Vô sinh tạo ra gánh nặng lớn cho gia đình, đặc biệt là đối với phụ nữ, thường gây ra lo âu và trầm cảm nghiêm trọng. Không rụng trứng là một nguyên nhân quan trọng gây vô sinh nữ. Các nghiên cứu cho thấy 85% các trường hợp không rụng trứng là do rối loạn trục hạ đồi – tuyến yên – buồng trứng, liên quan đến hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS), chỉ số khối cơ thể (BMI) bất thường và các bệnh lý nội tiết. Vì vậy, việc khôi phục rụng trứng là một khâu then chốt trong điều trị vô sinh.

Clomiphene citrate (CC), một chất điều hòa chọn lọc thụ thể estrogen không steroid, là thuốc hàng đầu kích thích rụng trứng. CC tác động lên thụ thể estrogen tại vùng hạ đồi, làm gián đoạn cơ chế phản hồi âm tính của estrogen đối với sự tiết gonadotropin, từ đó thúc đẩy sự phát triển của nang noãn. Tuy nhiên, do tác dụng kháng estrogen ngoại vi, CC đã được ghi nhận có thể gây rối loạn phát triển nội mạc tử cung và ảnh hưởng đến sự làm tổ của phôi. Do đó, việc tìm kiếm một liệu pháp kích thích rụng trứng mới, có thể thúc đẩy rụng trứng mà không ảnh hưởng đến sự phát triển và tăng trưởng của nội mạc tử cung, là rất cần thiết.

Y học cổ truyền  có lịch sử lâu đời trong điều trị vô sinh và đã chứng minh được hiệu quả đáng tin cậy. Dữ liệu lâm sàng cho thấy YHCT có những đặc điểm và ưu thế rõ rệt trong điều trị kích thích rụng trứng ở phụ nữ vô sinh. Ngoài ra, các nghiên cứu cũng chứng minh rằng YHCT có thể điều hòa hormone sinh dục, thúc đẩy sự phát triển nang noãn và cải thiện tính tiếp nhận của nội mạc tử cung trong điều trị vô sinh do rối loạn rụng trứng. Đồng thời, một số nghiên cứu còn cho thấy thuốc thảo dược Trung Quốc có thể tăng hiệu quả điều trị của CC.

Kim Phụng đào nguyên Hoàn là công thức thảo dược gồm các thành phần thảo dược tự nhiên, tinh khiết, là phương thuốc kinh nghiệm dựa trên nhiều nghiên cứu lâm sàng.  Chúng tôi giả thuyết rằng việc phối hợp công thức với CC trong điều trị vô sinh do không rụng trứng có thể nâng cao tỷ lệ rụng trứng mà không làm giảm độ dày nội mạc tử cung trong giai đoạn rụng trứng, từ đó tăng tỷ lệ mang thai và giảm tỷ lệ sảy thai. 

Cơ chế bệnh sinh

Chứng vô sinh “bất sản” xuất hiện lần đầu tiên trong “Hoàng đế nội kinh Tố vấn”:

“Kinh Đốc mạch có bệnh, cột sống cứng và cong ngược. Đốc mạch xuất phát từ trung xương phía dưới hạ bụng, ở nữ đi vào tử cung, vòng quanh hậu môn, theo mạch âm kết hợp với các nhánh, đi vòng mông, lên đùi trong… dẫn lên thận, nối với kinh Dương Thái, đi lên mắt trong, trán, vào não, rồi quay xuống cổ, vai, lưng, vào thận… Khi mắc bệnh… phụ nữ không mang thai, tiểu tiện khó, khô miệng.”

Mặc dù các y gia đời sau có quan điểm khác nhau về việc bất sản do bệnh Đốc mạch, ví dụ như Chen Huichou (triều Thanh) trong Kinh mạch đồ khảo ghi:

“Ba mạch cùng xuất phát từ cùng một điểm (Đốc, Xung, Nhâm đều xuất phát từ hội âm, chia ba nhánh, cùng một thể khác tên), kinh xưa có nói Nhâm mạch đi trước lưng gọi là Đốc, xuất từ hạ bụng đi thẳng lên cũng gọi là Nhâm, cũng gọi là Đốc. Nay người ta thường cho mạch đi lưng là Đốc, đi trước thân là Nhâm, bên hông là Xung… Đốc mạch có bệnh thì trị Đốc mạch, các huyệt trên xương và dưới rốn có thể đạt hiệu quả… Đốc, Xung, Nhâm ba mạch cùng một thể, Đốc chính là khung, Nhâm Xung là tên khác.”

Do đó, các y gia đời trước thường dùng câu “Xung Nhâm Đốc, một gốc ba nhánh” để tổng quát rằng vô sinh có thể do bệnh Đốc mạch hoặc Xung Nhâm gây ra. Như vậy, từ thời Tây Hán đã có bệnh lý “bất sản”.

Trước thời Đường, các kinh điển YHCT còn ít những chuyên luận có hệ thống, và phần lớn các luận thường bị trùng lặp do quá trình truyền sao. Trong số 220 bộ kinh điển bàn về “bất sản”, có 37 bộ coi “Đốc mạch có bệnh” là nguyên nhân gây bệnh, khác biệt rõ rệt với quan điểm hiện nay của hầu hết lương y lâm sàng, thường coi “Xung Nhâm có bệnh” là nguyên nhân chính của các bệnh phụ khoa. Khi truy cứu các kinh điển, phần lớn luận điểm đều nhấn mạnh: “Nhâm – Đốc – Xung ba mạch một nguồn mà ba nhánh”, “danh sắc tuy khác nhưng khí mạch không khác”, vì vậy vẫn xem “bất sản do Đốc mạch có bệnh” là quan điểm gốc từ Hoàng đế nội kinh Tố vấn

Trong các kinh điển YHCT qua các đời, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, phương pháp điều trị, phương thuốc, huyệt vị châm cứu và các hồ sơ y học về “bất sản” đều được ghi chép phong phú. Nghiên cứu này lấy kinh điển YHCT qua các thời kỳ làm cơ sở, tổng hợp các nguyên nhân thường gặp của “bất sản” và các phương thuốc quan trọng, nhằm khám phá hướng điều trị quan trọng, hỗ trợ tư duy lâm sàng.

tổng hợp quan điểm về nguyên nhân vô sinh có thể rút ra các nguyên nhân chính như sau:

  1. Khí huyết hư tổn (87,7%)
  2. Béo phì, đàm ứ (64,9%)
  3. Tử cung hư hàn (63,2%)
  4. Cảm xúc, suy nghĩ căng thẳng (52,6%)
  5. Nhiệt ẩn trong huyết (50,9%)

Các luận điểm chính:

Khí huyết hư tổn: Phụ nữ lấy “huyết” làm bản, khi khí huyết hư tổn dễ dẫn đến rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, đau bụng kinh, kinh ít, cơ thể yếu mệt, làm khó thụ tinh – đây là nguyên nhân phổ biến nhất của bất sản.

Béo phì, đàm ứ: Đàm và mỡ tắc nghẽn cửa tử cung, tinh dương không vào được, dẫn đến vô sinh. Đồng thời, đàm mỡ thừa thường đi kèm suy chức năng tỳ vị, huyết trắng ra nhiều, vì vậy hầu hết kinh điển dùng kiện tỳ, dẫn đàm làm phương pháp chính.

Tử cung hư hàn: Do phong hàn xâm nhập từ dưới hoặc ăn uống ưa đồ lạnh. Hầu hết kinh điển điều trị bằng phương thuốc ôn nhiệt, ấm tử cung, tránh dùng thực phẩm cay khô để không động huyết và làm tổn thương gốc sinh sản.

Căng thẳng, suy nghĩ quá mức: Phụ nữ thời xưa thường ở trong phòng, phải sống cùng hầu thiếp và một người chồng, cảm xúc bị kiềm chế hoặc hay ghen ghét, dẫn đến can uất, hỏa động, tỳ hư, ảnh hưởng đến khả năng thụ thai.

Nhiệt ẩn trong huyết: Thường do ăn cay, uống rượu, hoặc dùng thuốc cay nhiệt quá nhiều, dẫn đến nhiệt tích trong tử cung, ảnh hưởng đến kinh nguyệt, kèm theo huyết trắng, dễ cáu gắt, kinh nguyệt không thông. Phương pháp điều trị là làm mát huyết, tránh quá lạnh để không mất cân bằng khí huyết; thường dùng Bạch Vi, Đan Bì.

Về phương pháp điều trị “vô sinh” do nguyên nhân phụ nữ

Có rất nhiều phương thuốc, dưới đây là một số phương thuốc quan trọng để nhìn tổng thể cách chữa bất sản của các y gia cổ đại:

A. Khí huyết hư tổn

Trong các phân tích nguyên nhân trên, “khí huyết hư tổn” là nguyên nhân được nhắc đến nhiều nhất trong kinh điển.

Phương thuốc chủ yếu: Tứ vật thang dùng làm nền, xuất hiện 22 lần, có thể gia giảm theo chứng: khí hư thêm sâm, kỳ, mạch chứng nhiệt thêm hoàng cầm, liên, mạch chứng hàn thêm quế, phụ, tử thạch anh, v.v.

Một phương thuốc quan trọng khác: Dục Lân Châu trong Kinh Nguyệt Toàn Thư: dùng cho phụ nữ khí huyết đều hư, kinh mạch rối loạn, kinh gián đoạn hoặc huyết trắng, đau bụng, đau lưng, ăn uống kém, gầy yếu, bất sản; dùng 1–2 cân là có thể thụ thai. Thảo dược gồm: nhân sâm, bạch truật (thổ sao), phục linh, thược dược (rượu sao), xuyên khung, cam thảo cháy, đương quy, thục địa, thỏ ty tử chế, độc trung (rượu sao), lộc giác sương, xuyên tiêu. Thu thành hoàn mật, viên cỡ hạt đạn, nhai hoặc uống với rượu/trắng. Nếu nam giới khí hư thêm câu kỷ, hồ đào, lộc giác giao, sơn dược, sơn thục, bá kỷ nhân; nếu nữ kinh muộn, đau bụng thêm rượu sao phá cố, nhục quế, nghiêm trọng thêm ngũ chu tử, ngâm nước qua đêm rồi sao dùng; tử cung hàn nặng thêm phụ tử chế, khô khương sao, v.v.

B. Tử thạch anh (Zǐ Shí Yīng)

Trong 220 bộ kinh điển, tử thạch anh xuất hiện 42 lần, vai trò quan trọng trong điều trị bất sản.

Lần đầu tiên xuất hiện trong Thần Nông Bản Thảo Kinh: “vị ngọt, bình; trị tâm bụng, ho, nghịch khí, bổ hư, nữ giới phong hàn ở tử cung, tuyệt sản mười năm không có con. Dùng lâu ấm trung, nhẹ thân, kéo dài tuổi thọ.”

Trong Bản Thảo Cương Mục: giúp trấn tâm, bổ can, chữa huyết hư lạnh, thích hợp phụ nữ huyết hư, tử cung hư hàn.

Các kinh điển dùng nhiều: Tử Thạch Anh Hoàn hay Tử Thạch Môn Đông Hoàn, dùng chữa tử cung hư lạnh, bất sản. Công thức gồm 26 vị, nghiền bột, hoàn mật cỡ hạt du, uống rượu, tăng dần liều, theo nhiệt độ bụng làm chuẩn. Lưu ý: thuốc khoáng cần sao chế cẩn thận.

C. Béo phì, đàm ứ

Bất sản do béo phì, đàm ứ chủ yếu dùng phương pháp hành thấp táo đàm

Phương thuốc cho bất sản do béo phì, đàm ứ

Các phương thuốc thường dùng gồm: Bán hạ, Thương truật, Thái Xung, Phòng phong, Khương hoạt, Hoạt thạch, hoặc các loại như Đề đàm thang, Đạo đàm thang.

Nếu nguyên nhân là do tỳ vị hư nhược, vận hóa kém, dẫn đến đàm trệ tích tụ, thì phương đại diện là Gia vị Bổ Trung Ích Khí thang trong Phụ Thanh Chủ Nữ Khoa

“Nhân sâm (3 tiền), Hoàng kỳ (3 tiền, dùng sống), Thái Hồ (1 tiền), Cam thảo (1 tiền), Đương quy (3 tiền, rượu rửa), Bạch truật (1 lượng, thổ sao), Thăng ma (4 phân), Trần bì (5 phân), Phục linh (5 tiền), Bán hạ (3 tiền, chế). Đun uống. Uống 8 thang thì đàm tiết hết, thêm 10 thang lợi thủy, tử cung khô ráo, dễ thụ tinh và có thai.”

Các kinh điển nhấn mạnh: béo phì không cần dùng thuốc tiêu hóa hay thuốc mạnh để khai thông, chủ trương:

“Dương khí đủ, tự có thể nhiếp tinh, thấp tà tiêu tan, tự có thể thụ thai, sao phải lo béo phì mà bất sản?”

Đây là hướng điều trị cơ bản cho các bệnh nhân béo phì, ví dụ như hội chứng buồng trứng đa nang, trong y học hiện đại.

Nguyên nhân và cơ chế bệnh theo y học cổ truyền

Thận hư, can uất, ứ trệ, thận khí hư, thận dương hư, thận âm tổn thương đều có thể khiến khí huyết vận hành không thông, lâu ngày dẫn đến ứ huyết; ứ huyết cản trở mạch tử cung, tinh dịch không đủ sinh hóa, càng làm thận hư trầm trọng hơn. Hai yếu tố này tương hỗ và tác động lẫn nhau, nghiêm trọng có thể hình thành vòng luẩn quẩn “thận hư – huyết ứ – thận hư”, cuối cùng tử cung mất khả năng nuôi dưỡng, gây kém phát triển và khó thụ thai.

Khí là “tướng huyết”, huyết là “mẫu khí”, tinh huyết cùng nguồn. Khi thận khí đầy đủ sẽ thúc đẩy khí huyết vận hành, khí vận thì huyết hành, ứ huyết sẽ tan; bằng phương pháp hoạt huyết hóa ứ, khí huyết lưu thông, thận dương sinh tinh, hai yếu tố hỗ trợ lẫn nhau, đạt mục tiêu điều trị.

Do đó, bổ thận hoạt huyết là nguyên tắc cơ bản trong điều trị rối loạn phóng noãn gây vô sinh: thận tinh sung túc, âm dương khí huyết điều hòa, Chông Nhâm thông suốt, nuôi dưỡng tử cung, chức năng sinh lý tử cung bình thường, cuối cùng mới có khả năng thụ thai.

can đóng vai trò trụ cột trong sinh sản nữ; can chủ sơ tiết là trụ cột cho phóng noãn bình thường và điều hòa chu kỳ kinh nguyệt. Gan thận tương hỗ, kinh nguyệt điều hòa, trứng tự phát, do đó can uất là nguyên nhân gây rối loạn phóng noãn và vô sinh.

Sự phối hợp giữa Thận – Thiên Quý – kinh Chông Nhâm – Tử cung trong trục sinh dục là yếu tố then chốt để thụ thai. Khi tinh thận đầy đủ thì Thiên Quý bình thường, kinh nguyệt đều; nếu âm thận hư tổn thì Chông Nhâm bị ảnh hưởng, dẫn đến kinh nguyệt rối loạn hoặc vô sinh. Rối loạn chức năng này có thể gây ra nhiều bệnh sinh sản như kinh nguyệt bất thường, vô sinh.

Thiếu âm thận: Tinh của nữ là huyết âm nuôi tử cung, nên khi âm thận hư sẽ ảnh hưởng đến kinh nguyệt, xuất hiện các triệu chứng như chu kỳ kinh rối loạn, kinh kéo dài hoặc kinh ra nhiều.

Thiếu tinh khí trung thận: Tinh khí trong thận là cơ sở vật chất cho kinh nguyệt. Thận hư là nguyên nhân cơ bản của bệnh, dẫn đến khí huyết sinh hóa không đầy đủ; thận âm hư không nuôi dưỡng cơ thể, thận dương hư không làm ấm các tạng phủ, khiến âm dương cơ thể mất cân bằng. Khi ảnh hưởng lên gan sẽ sinh ra uất lý (trì trệ khí), lên tim sẽ làm khí huyết vận hành không thông, gây ứ huyết; lên tỳ vị sẽ sinh đàm thấp. Sự mất cân bằng âm dương dẫn đến Chông Nhâm mất điều hòa, biểu hiện trên hệ sinh sản nữ là rối loạn phóng noãn gây vô sinh. Bất kỳ mắt xích nào bị ảnh hưởng đều có thể gây rối loạn phóng noãn, dẫn đến vô sinh

Tóm lại, nguyên nhân và cơ chế bệnh của rối loạn phóng noãn gây vô sinh rất phức tạp, liên quan nhiều tạng phủ, khí huyết tinh dịch, mất cân bằng âm dương; nhìn chung lấy thận hư làm gốc, can uất làm nguyên nhân, khí huyết và Chông Nhâm mất điều hòa là then chốt, đồng thời có huyết ứ, đàm thấp, khí trệ…

Tình hình điều trị theo y học cổ truyền

1. Điều trị theo chứng
Y học cổ truyền chú trọng theo âm dương, hài hòa phép số, ăn uống điều độ, sinh hoạt thường xuyên, không làm việc quá sức, thì mới đạt được hình thần đều đầy đủ. Y học cổ truyền dựa trên xem xét toàn diện, vận dụng tư tưởng “âm bình dương bí” để các tạng phủ, khí huyết, … trong cơ thể đạt cân bằng động, tiến hành biện chứng luận trị, cuối cùng có lợi cho khả năng thụ thai.

Phương pháp bổ thận hoạt huyết
Sinh sản nữ giới lấy huyết làm dụng, lấy thận làm gốc. Khi ứ huyết dừng lại tại một tạng phủ hay tổ chức nào đó, khó tan kịp thời, hoặc lâu ngày thành chứng khối tích tụ, chèn ép mô xung quanh, hình thành bệnh lý tương ứng. Bệnh do ứ huyết gây ra rất đa dạng, vị trí tắc nghẽn khác nhau, nguyên nhân cũng khác nhau.

Giáo sư Vương Tú Hạ trong lâm sàng thường tự soạn phương bổ thận để điều trị vô sinh thận hư huyết ứ, đạt hiệu quả rõ rệt. Về điều trị, chủ yếu bổ thận hoạt huyết, phương pháp này có thể tăng độ dày nội mạc tử cung, thúc đẩy tuần hoàn máu tử cung, tạo môi trường tốt hơn cho phôi làm tổ.

Phương pháp bổ thận sơ can
Gan tàng huyết, thận tàng tinh, tinh huyết cùng nguồn. Khi tinh huyết đầy đủ, hai mạch Chông Nhâm dồi dào, giúp tăng cường và duy trì chức năng sinh sản nữ và kinh nguyệt bình thường; khi tinh thiếu, huyết ít, khí huyết không lưu thông, gây mất điều hòa Chông Nhâm dẫn đến vô sinh. Vì vậy, trong điều trị nên chủ yếu bổ gan thận.

Phó Thanh Chủ đặc biệt chú trọng hòa điều can tỳ, phương pháp nên sơ can kiện tỳ, bổ thổ tiết mộc. Việc lựa chọn thuốc cũng theo tư tưởng biện chứng, thêm các vị thuốc sơ can kiện tỳ.

Ngoài ra, giáo sư Chu Nam Tôn cho rằng vô sinh nữ mặc dù liên quan nhiều tạng phủ, nhưng gắn chặt nhất với can thận; can thận có vai trò khác nhau trong chu kỳ kinh nguyệt, nên khi lâm sàng, Chu lão lấy can thận làm cương, điều trị can phải kèm thận, bổ thận phải sơ can. Phương “tăng phóng hỗ trợ thụ thai thang” của ông, bổ gan thận, thúc đẩy phóng noãn, hỗ trợ thụ thai, nâng cao tỷ lệ phóng noãn rất rõ rệt.

Bài thuốc của Niu Khánh Phương trong lâm sàng dùng bổ thận sơ can điều trị 34 trường hợp rối loạn phóng noãn, thành phần: Câu kỷ 15 g, Nữ trinh tử 15 g, Bạch thược 10 g, Sơn dương nhục 15 g, Hoài sơn 20 g, Sài hồ 10 g, Trần khấu 10 g, Thục địa 15 g, Tiên linh tỳ 10 g, Cam thảo 6 g; dùng từ ngày thứ 5 chu kỳ kinh, liên tục 3 chu kỳ kinh. Kết quả cho thấy tỷ lệ phóng noãn của nhóm điều trị tăng đáng kể so với nhóm đối chứng.

Phương pháp bổ thận hóa đàm
Giáo sư Tông Tuất Anh cho rằng vô sinh liên quan mật thiết đến tỳ thận hư, sinh đàm thấp.

Tôn Mông  trên 32 trường hợp vô sinh do thận hư đàm thấp, không phóng noãn, tự soạn Bổ thận hóa đàm hỗ trợ thụ thai thang, và chia theo giai đoạn chu kỳ kinh để điều trị, liên tục 3 chu kỳ kinh

Kết quả cho thấy thuốc bổ thận hóa đàm có thể cải thiện rõ rệt nồng độ hormone, cải thiện chức năng buồng trứng, nâng cao chất lượng nang trứng, thúc đẩy phóng noãn và thụ thai, từ đó tăng khả năng mang thai.

2.Phương pháp điều chỉnh chu kỳ (Điều chu kỳ pháp)
Danh y Hạ Quế Thành dựa trên nhịp điệu cơ bản của chu kỳ kinh nguyệt, tận dụng cơ hội để phục hồi chức năng sinh lý của chu kỳ kinh, nâng cao mức độ chuyển hóa âm dương trong chu kỳ, và xây dựng các phương pháp điều trị tương ứng ở từng giai đoạn, nhằm loại bỏ sớm các triệu chứng vô sinh.

Điều trị theo sáu giai đoạn:

  1. Giai đoạn giữa kỳ kinh: chủ yếu hoạt huyết hóa ứ.
  2. Hậu kỳ kinh: chủ yếu tư âm dưỡng huyết.
  3. Tiền kỳ kinh: chủ yếu bổ thận trợ dương.
  4. Hành kinh: chủ yếu hoạt huyết điều kinh.
  5. Giai đoạn phóng noãn: chủ yếu hoạt huyết hóa ứ, kết hợp điều hòa khí cơ.

Giáo sư Lưu Mẫn Như nhấn mạnh tầm quan trọng của dẫn máu kinh, đề xuất lựa chọn phương pháp phù hợp với đặc điểm thay đổi âm dương khí huyết trong từng giai đoạn chu kỳ. Trong giai đoạn giữa chu kỳ – thời điểm quan trọng của chuyển hóa âm dương và phóng noãn – có thể thêm các vị thuốc hoạt huyết hóa ứ để thúc đẩy quá trình này, cuối cùng giúp trứng phóng ra thuận lợi.

Giáo sư Tân Dũng và nhóm nghiên cứu lâm sàng cho thấy, đối với bệnh nhân rối loạn phóng noãn do thận dương hư hoặc thận âm hư, nhóm điều trị bằng phương pháp bổ chu kỳ bằng thuốc Trung y và liên hợp biện chứng điều trị kết hợp bổ chu kỳ có tỷ lệ mang thai lâm sàng và tỷ lệ phóng noãn đều cao hơn đáng kể so với nhóm chỉ biện chứng điều trị, chứng tỏ phương pháp bổ chu kỳ cải thiện rõ rệt rối loạn phóng noãn, nâng cao tỷ lệ mang thai.

3.Điều trị bằng châm cứu

Điều trị rối loạn phóng noãn theo châm cứu tuân theo nguyên tắc:

“Hư thì bổ, thực thì tả, sa thì cứu, hàn thì lưu, nhiệt thì tấn, không thịnh không hư lấy kinh mà trị”,

và áp dụng biện chứng bổ tả khác nhau. Châm cứu có ưu điểm hiệu quả cao, thao tác đơn giản, tổn thương nhỏ, không độc hại, ít tác dụng phụ, tỉ lệ sảy thấp, ưu việt hơn Tây y.

Miao Chong đề xuất nguyên tắc chung “không tổn hại khi thiếu, bổ khi dư”, dùng châm cứu theo mạch và kết hợp các nguyên tắc dương trị âm, hạ trị thượng, tả thực bổ hư, đồng thời chọn huyệt dựa trên tác dụng chủ trị, gần trị, xa trị để đạt hiệu quả tốt.

Sun Xuemei nghiên cứu 96 bệnh nhân rối loạn phóng noãn, chia làm 2 nhóm: nhóm đối chứng điều trị bằng Clomiphene citrate, nhóm quan sát điều trị châm cứu kết hợp Phương điều kinh thúc thai Chu. Các huyệt chọn châm: Quan Nguyên, Tử cung, Khí hải, Trung cực, Buồng trứng, dùng kim 1.5–2.5 tấc thẳng, lấy khí rồi xoay kim, dùng phương pháp bổ tả cân bằng, giữ kim 25 phút, cứu hộ thần khuyết bằng hộp nhang, mỗi tuần 3 lần, cách ngày một lần, liên tục 6 tháng. Kết quả cho thấy phương pháp châm cứu kết hợp Phương Chu điều trị rối loạn phóng noãn đạt hiệu quả tốt.

Nhóm Hứa Lâm Linh phát triển lý thuyết “thông Đốc Đạo khí, điều hòa Chông Nhâm và Đới mạch”, nghiên cứu 60 bệnh nhân, chia hai nhóm: nhóm điều trị uống Letrozole theo phác đồ + châm cứu từ ngày thứ 2 chu kỳ, huyệt châm: Mệnh môn, Bách hội, Cách du, Khí hải, Can du, Thận du, Đại hạch, Thứ liêu, Tam âm giao, Công tôn, Quan nguyên, Đới mạch, châm cứu cách ngày đến trước ngày chuyển phôi; nhóm đối chứng chỉ uống Letrozole. Sau điều trị, tỷ lệ mang thai và phóng noãn tăng rõ rệt.

4. Chỉ dùng cứu ngải
Các huyệt cứu thường dùng: Tam âm giao, Trung cực, Thần khuyết, Thạch quan, Quan nguyên. Tùy theo yêu cầu bệnh lý có thể dùng cứu trụ hoặc cứu điếu; cứu trụ có lửa mạnh, trực tiếp hơ qua thuốc, kích thích huyệt hiệu quả. Vô sinh chủ yếu hàn hư, cứu ngải giúp ôn thận tán hàn, hoạt huyết hóa ứ, cuối cùng đạt hiệu quả điều trị.

Hoàng Tiến Thục  dùng cứu ngải điều trị rối loạn phóng noãn, chọn huyệt: Quan nguyên, Tử cung, Phong lũng, Tam âm giao, Can du, Tỳ du, thực hiện hằng ngày hoặc cách ngày, liệu trình 1 tháng, theo dõi 3 tháng để đánh giá hiệu quả. Kết quả cho thấy cứu ngải thúc đẩy phóng noãn, điều kinh, hiệu quả rõ rệt.

Tóm lại, rối loạn phóng noãn lấy thận hư làm gốc, can uất làm nguyên nhân, huyết ứ tồn tại suốt quá trình, là kết quả tổn thương trục Thận – Thiên Quý – Chông Nhâm – Tử cung. Các phương pháp điều trị YHCT đa dạng, gồm biện chứng luận trị, châm cứu, chỉ cứu ngải, đều có hiệu quả tốt và an toàn.

Y học hiện đại

Nguyên nhân theo Tây y

Nguyên nhân gây vô sinh rất phức tạp và đa dạng, trong đó các yếu tố rối loạn rụng trứng chiếm khoảng 25%–30%, và có xu hướng tăng theo từng năm. Quá trình rụng trứng phụ thuộc vào trục vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng; bất kỳ trục nào gặp vấn đề đều có thể làm nang trứng không phát triển bình thường hoặc không rụng, dẫn đến vô sinh.

Năm 1993, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phân loại rối loạn rụng trứng thành ba loại:

Loại I: Rối loạn chức năng vùng dưới đồi – tuyến yên.

Loại II: Rối loạn chức năng vùng dưới đồi – tuyến yên (thường gặp trong hội chứng buồng trứng đa nang – PCOS).

Loại III: Vô kinh buồng trứng (bao gồm suy buồng trứng sớm – POF / suy chức năng buồng trứng sớm – POI / giảm dự trữ buồng trứng – DOR / phản ứng buồng trứng kém – POR).

Trong thực hành lâm sàng, còn có các bệnh khác như suy hoàng thể (LPD), tăng prolactin máu (HPRL), rong kinh không rụng trứng (AUB-O), hội chứng nang trứng không vỡ nhưng hoàng thể hóa (LUFS)… tất cả đều có thể dẫn đến rối loạn rụng trứng.

Tình hình điều trị Tây y

1. Thuốc kích thích phóng noãn thường dùng
Hiện nay, các thuốc kích thích phóng noãn lâm sàng bao gồm: Clomiphene citrate (CC), Clomiphene, Letrozole, hormone kích thích tuyến sinh dục (gonadotropin), hormone giải phóng gonadotropin (GnRH)…

Clomiphene citrate (CC)
CC là thuốc kích thích phóng noãn dòng đầu trong lâm sàng, có đặc tính chống estrogen. CC tác động trực tiếp lên thụ thể estrogen (ER) ở hạ đồi, đồng thời cạnh tranh với estrogen tại ER nội mạc tử cung, làm giảm tác dụng của estrogen trên cơ quan đích, từ đó giảm khả năng tiếp nhận của nội mạc, khiến nội mạc tử cung không đạt độ dày cần thiết cho làm tổ phôi, ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai lâm sàng

CC cũng gián tiếp ảnh hưởng đến progesterone nhờ ức chế estrogen, gây suy phát triển nội mạc tử cung trong giai đoạn tiết, ảnh hưởng đến làm tổ của trứng thụ tinh

Letrozole
Letrozole  là chất ức chế aromatase, ức chế chuyển hóa androgen thành estrogen, làm giảm nồng độ estrogen, kích thích nang phát triển, khôi phục chức năng phóng noãn của buồng trứng, nâng cao tỷ lệ phóng noãn và khả năng thụ thai, đồng thời cải thiện các chỉ số nội tiết, tối ưu hóa trạng thái tử cung.

Clomiphene
Clomiphene  là chất tổng hợp phi steroid, kích thích thụ thể estrogen, làm tăng giải phóng LH, thúc đẩy phát triển nang, gây phóng noãn cho 70–85% bệnh nhân.

Trình Hoa Anh  so sánh hiệu quả của Letrozole và Clomiphene trên bệnh nhân PCOS về thời gian trưởng thành nang, tỷ lệ phóng noãn, tỷ lệ mang thai, kết luận Letrozole có hiệu quả kích thích phóng noãn tốt hơn Clomiphene, thúc đẩy nang trưởng thành và phóng ra, từ đó tăng tỷ lệ mang thai.

Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART)

Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART) là phương pháp thụ tinh nhân tạo hoặc kiểm soát trứng nhân tạo, nhằm thực hiện thụ tinh ngoài cơ thể giữa tinh trùng và trứng, hình thành phôi nang giai đoạn sớm, sau đó cấy phôi nang vào tử cung để thụ thai.

Hiện nay, trong lâm sàng, hai phương pháp được sử dụng nhiều nhất là:

Thụ tinh nhân tạo (AI)

Thụ tinh trong ống nghiệm – cấy phôi (IVF-ET)

Trên cơ sở này, còn phát triển thêm các phương pháp:

Tiêm tinh trùng đơn vào từng nang trứng (ICSI)

Kiểm tra di truyền trước khi cấy phôi (PGT)

Cấy nhân tế bào trứng (nuclear transfer)

Hiện nay, khi tỷ lệ vô sinh tăng, chính sách sinh con thứ ba được nới lỏng, và số bệnh nhân mong muốn mang thai ở độ tuổi cao ngày càng nhiều, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trở thành lựa chọn cuối cùng cho các bệnh nhân vô sinh. Tuy nhiên, các vấn đề về đạo đức, pháp lý và an toàn của kỹ thuật này cũng cần được nghiên cứu và đánh giá sâu sắc.

Điều trị hội chứng buồng trứng đa nang

  • thuốc tránh thai estrogen/progestin hoặc progestin
  • metformin hoặc các chất làm tăng độ nhạy insulin khác
  • Điều trị chứng rậm lông, và ở phụ nữ trưởng thành, các nguy cơ lâu dài của các bất thường hormone
  • Điều trị vô sinh ở phụ nữ mong muốn mang thai (không sử dụng estrogen / progestin

Nguồn tham khảo

  1. Sách dược lý dược cổ truyền đại học dược Hà Nội
  2. Sách Bệnh Học Và Điều Trị Nội Khoa (Kết Hợp Đông Tây Y) Chủ biên: PGS. TS. Nguyễn Thị Bay
  3. Phương tễ học và sách y học cổ truyền đại học y Hà Nội
  4. Phương tễ học - Lương y Hoàng Duy Tân
  5. Dược điển Việt Nam V và dược điển Trung Quốc
  6. Các tài liệu nghiên cứu khoa học khác

Đặt mua công thức trà thảo dược Kim Phụng Đào nguyên hoàn cho phụ nữ bị hội chứng đa nang buồng trứng và các nguyên nhân vô sinh khác ở đâu

Liên hệ Thạc sĩ Nguyễn Đăng Hải

0936700000

đặt hàng
Giao hàng tận nhà tại An Giang , Bà Rịa - Vũng Tàu , Bắc Giang , Bắc Kạn , Bạc Liêu , Bắc Ninh , Bến Tre , Bình Định , Bình Dương , Bình Phước , Bình Thuận , Cà Mau , Cao Bằng , Đắk Lắk , Đắk Nông , Điện Biên , Đồng Nai , Đồng Tháp , Gia Lai , Hà Giang , Hà Nam , Hà Tĩnh , Hải Dương , Hậu Giang , Hòa Bình , Hưng Yên , Khánh Hòa , Kiên Giang , Kon Tum , Lai Châu , Lâm Đồng , Lạng Sơn , Lào Cai , Long An , Nam Định , Nghệ An , Ninh Bình , Ninh Thuận , Phú Thọ , Quảng Bình , Quảng Nam , Quảng Ngãi , Quảng Ninh , Quảng Trị , Sóc Trăng , Sơn La , Tây Ninh , Thái Bình , Thái Nguyên , Thanh Hóa , Thừa Thiên Huế , Tiền Giang , Trà Vinh , Tuyên Quang , Vĩnh Long , Vĩnh Phúc , Yên Bái , Phú Yên , Cần Thơ , Đà Nẵng , Hải Phòng , Hà Nội , TP HCM , thành phố Hồ Chí Minh , Sài gòn

Xem thêm các sản phẩm